TIN NỔI BẬT:

Cổng thông tin điện tử Sở Văn hóa và Thể thao Kiên Giang

Hoạt động bảo tồn bảo tàng

Xem với cỡ chữAA

Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống trong đồng bào Khmer

(09:21 | 05/07/2021)

Chiếm 13,4% trong tổng số dân ở Kiên Giang, đồng bào Khmer đã hun đúc, sáng tạo nên một kho tàng văn hóa vô cùng đặc sắc. Thời gian qua, đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh đã triển khai, tổ chức nhiều hoạt động nhằm tôn vinh, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Khmer Nam Bộ ở Kiên Giang.

Những ngôi chùa Khmer chính là sự kết tinh từ nghệ thuật truyền thống và tính sáng tạo của dân tộc với những nét văn hóa đặc sắc đầy ấn tượng, là một chỉnh thể nghệ thuật được kết hợp một cách hài hòa các yếu tố kiến trúc, hội họa, hoa văn trang trí. Đây chính là nơi chứa đựng những giá trị tâm linh, tín ngưỡng, văn hóa sâu sắc của đồng bào Khmer. Toàn tỉnh hiện có 76 chùa Khmer, trong đó có nhiều chùa được trùng tu, tôn tạo khang trang, vẫn lưu giữ được lối kiến trúc sắc xảo và độc đáo. Riêng 08 chùa tháp Khmer được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh, đã có 05 di tích, gồm: Chùa Tổng Quản, chùa Cái Bần (huyện Gò Quao); chùa Láng Cát (thành phố Rạch Giá); chùa Sóc Xoài (huyện Hòn Đất), chùa Xẻo Cạn (huyện U Minh Thượng) đưa vào dự án bảo tồn trong tổng số 10 di tích được triển khai năm 2018.

Chùa Khmer không chỉ là nơi thực hiện nghi lễ của Phật giáo mà còn là nơi tổ chức dạy chữ Khmer, tổ chức lễ hội, truyền bá kinh nghiệm sản xuất, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hiện nay, có thể tìm thấy những đội kèn, trống, nhạc ngũ âm, đội ghe ngo ở hầu hết các ngôi chùa Khmer. Với việc trùng tu, tôn tạo các ngôi chùa Khmer, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ngày càng được bảo vệ tốt hơn và được đầu tư nhiều hơn về nhân lực, vật lực để giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống vốn có của đồng bào Khmer. Nhiều lễ hội truyền thống và văn hóa dân gian được khôi phục, duy trì tạo nên sự phong phú, đa dạng về văn hóa, thể thao và tạo sân chơi bổ ích cho đồng bào Khmer. Tiêu biểu lễ hội Ok-Om-Bok của người Khmer được nâng lên thành Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng bào Khmer tỉnh Kiên Giang, mỗi năm thu hút trên 200 ngàn lượt người tham gia. Ngày hội là sự kiện văn hóa có ý nghĩa tôn vinh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa đồng bào Khmer Nam Bộ ở Kiên Giang; là cơ hội để đồng bào các dân tộc có dịp gặp gỡ, giao lưu, tham gia vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; tạo sự đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc trong và ngoài tỉnh.

Bảo tàng tỉnh hiện đang lưu giữ hơn 20 ngàn hiện vật, trong đó có 500 hiện vật văn hóa Khmer. Hàng năm, tỉnh đều tổ chức các hội thi, hội diễn văn nghệ Khmer từ tỉnh đến cơ sở, góp phần giữ gìn, phát huy và bảo tồn nét văn hóa của đồng bào Khmer qua các bài hát, điệu múa, nhạc cụ và kỹ năng trình diễn; khuyến khích xây dựng phong trào văn hóa, văn nghệ trong đồng bào. Toàn tỉnh hiện có 01 Đoàn Nghệ thuật Khmer, mỗi năm phục vụ trên 70 xuất, thu hút khoảng 15 ngàn lượt người xem; có gần 10 Đội văn nghệ Khmer hoạt động hiệu quả. Đài Phát thanh và truyền hình Kiên Giang, Đài truyền thanh một số huyện duy trì đều đặn các chương trình tiếng Khmer hàng ngày. Ngoài việc giúp đồng bào được dễ dàng tiếp cận các thông tin kinh tế - xã hội của địa phương, còn phát các chương trình, tiết mục văn nghệ, góp phần đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào, đóng góp tích cực trong việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật Khmer Nam Bộ trên vùng đất Kiên Giang.

 

Bên cạnh đó, Sở Văn hóa và Thể thao (VHTT) hàng năm tổ chức  giải Đua ghe ngo, Đua thuyền truyền thống và tại các kỳ Đại hội Thể dục thể thao cấp tỉnh đều đưa các môn thể thao dân tộc vào chương trình thi đấu của Đại hội như: Đua ghe ngo, đẩy gậy, kéo co, góp phần thúc đẩy thể thao quần chúng trong đồng bào Khmer, tăng cường giao lưu văn hóa Khmer và thắt chặt tình đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc anh em trên quê hương Kiên Giang. Ngành VHTT đã cấp hơn 100 bộ âm thanh, nhạc cụ, giúp các đội văn nghệ và 15 chùa Khmer có phương tiện hoạt động; 24/76 chùa có ghe ngo.

Từ năm 2016-2019, Sở VHTT triển khai kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Khmer - Hoa tại 139 xã, phường, thị trấn thuộc 15 huyện, thành phố trong tỉnh. Kết quả bước đầu đã thực hiện được 75 phiếu kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể là dân ca, dân nhạc, dân vũ của cả 02 dân tộc thiểu số là người Khmer và người Hoa thuộc loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian.

Với những hoạt động thiết thực, nét đẹp văn hóa của đồng bào Khmer đã, đang và sẽ được giữ gìn, phát huy sức sống trong đời sống hiện đại. Song hiện nay, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đồng bào Khmer đang gặp nhiều khó khăn, hạn chế như một số loại hình di sản văn hóa đồng bào Khmer có nguy cơ mai một, không có nghệ nhân truyền dạy và kế thừa; kinh phí cho việc đào tạo, truyền dạy chữ viết, tiếng nói, các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống còn hạn chế...

Hiện nay, Sở VHTT thực hiện điều tra, khảo sát thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị 10 loại hình nghệ thuật Khmer tiêu biểu như: Nghệ thuật múa, âm nhạc và nhạc cụ, Dù kê, Rô băm, nghệ thuật viết chữ Khmer trên sách lá, kiến trúc chùa Khmer, lễ hội, văn học dân gian, trang phục truyền thống nhằm mục đích phục vụ cho việc lập “Đề án bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, giai đoạn 2021-2025”. Đề án nhằm góp phần thực hiện tốt công tác văn hóa dân tộc, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào Khmer, phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện của tỉnh; đề xuất và thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải thiếu hiệu quả, một số loại hình nghệ thuật truyền thống Khmer bị mất dần theo thời gian; đẩy mạnh các hoạt động truyền dạy, đào tạo, bồi dưỡng để có đội ngũ nghệ nhân, diễn viên, nhạc công, tác giả Khmer kế thừa; tuyên truyền, quảng bá, nhằm nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và Nhân dân vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tỉnh đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị các loại hình nghệ thuật truyền thống Khmer; tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh thông qua việc tăng cường nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước kết hợp vận động xã hội hóa một cách hiệu quả.

Yến Nhi