TIN NỔI BẬT:

Cổng thông tin điện tử Sở Văn hóa và Thể thao Kiên Giang

Hoạt động bảo tồn bảo tàng

Xem với cỡ chữAA

Trận Xẻo Rô, 30-10-1959, chiến công hiển hách của lòng dân

(00:00 | 21/10/2019)

Trận Xẻo Rô 30/10/1959 đã đi vào lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta - một chiến công hiển hách của lòng dân, của quân dân Kiên Giang.

“Trân trọng kính trình - Đêm 29 rạng 30/10/1959, lúc 01 giờ 30, quận lỵ Kiên An/Kiên Giang WR127898 bị Việt Cộng đột nhập - Địch có lối 2 đại đội võ trang, chia làm 4 cánh. Các cơ sở đều bị lục soát. Sự thiệt hại bên ta: chết 1 quận trưởng - 1 hội viên cảnh sát - 4 Bảo an - 2 Dân vệ - 9 thuộc gia đình binh sĩ. Vũ khí bị mất: 1 Trung liên - 17 Mas 36 - 1 carbine - 1 súng sáu - 1 Mas 38 - 2 Mas 49. Tất cả hồ sơ lưu trữ đều bị thiêu hủy. Tiền bị lấy ước độ 1 triệu bạc. Vật liệu bị mất: 2 máy chữ. Tất cả con dấu của Quận, Công an, Bảo an, Dân vệ và Hội đồng xã. 2 máy hors-bord. 2 máy truyền tin. Số vật dụng còn lại đều bị thiêu hủy. Tài sản của ông Quận trưởng, Hội viên cảnh sát bị chúng tịch thu. Giải thoát 69 chính trị phạm.

Thiệt hại địch: 4 tử thương, 2 bị thương chúng mang đi. Địch rút lui lúc 03 giờ 30 - bỏ lại một số truyền đơn và bản án - sẽ phúc trình chi tiết sau.”.

Địch tự thú và báo cáo vắn tắt như vậy về trận Xẻo Rô - ngay sau 1 ngày sự việc xảy ra.

Từ sau Tết nguyên đán 1959, nhứt là từ khi Ngô Đình Diệm ban hành Luật 10/59; đồng thời với việc chỉ đạo các địa phương trong tỉnh tiếp tục chặt chẽ hơn trong việc diệt ác, Thường trực Tỉnh ủy Rạch Giá đã chủ định cho lực lượng võ trang của tỉnh “diệt chi khu Xẻo Rô” để “hạ ngọn” sự hung hăng đánh phá của địch, nâng “uy thế” của cách mạng; đặt ra 2 mục tiêu cụ thể phải đồng thời đạt cho kỳ được:

- Diệt Quận trưởng ác ôn Lâm Quang Quận;

- Thu chiến lợi phẩm, chủ yếu là tiền và vàng, để đáp ứng nhu cầu trang trải một số hoạt động của tỉnh trong lúc này.

Tỉnh ủy đã giao nhiệm vụ đặc biệt này cho Tiểu đoàn Ngô Sở, đơn vị võ trang của tỉnh (tiền thân của Tiểu đoàn 207 của tỉnh), thời gian này vẫn đang mang danh nghĩa công khai là lực lượng võ trang của giáo phái Hòa Hảo thuộc “Lực lượng Liên quân chống Mỹ Diệm”.

Như đã nói, trận này có yêu cầu rất cụ thể, thiết thực của Tỉnh ủy - cấp lãnh đạo cao nhứt của tỉnh - xuất phát từ yêu cầu tự thân, từ tình hình thực tế của phong trào cách mạng của địa phương. Phó Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Tấn Thanh (Chín Cửu) người trực tiếp chỉ đạo trận này, sau khi bí mật bàn thảo thống nhứt với Bí thư Tỉnh ủy Lâm Văn Thê (Ba Hương), đã đích thân giao nhiệm vụ cho Ban chỉ huy của Tiểu đoàn với mấy ý chắc nịch, ngắn gọn, dễ hiểu: “Tài chánh là chủ yếu, Lâm Quang Quận là quan trọng”. Phía nhận nhiệm vụ thi hành, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn, thì sốt sắng, mau lẹ thống nhứt, hạ quyết tâm đối với Tỉnh ủy - hứa là: “Chắc ăn!”, “Cương quyết thắng!”.

Cuối năm 1959, Luật 10/59 của chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng “làm mưa, làm gió”, gây muôn vàn tổn thất cho cách mạng miền Nam. Từ thôn quê cho tới thị thành, bất cứ ai cũng có thể “bị khổ sai chung thân” hoặc “bị phạt tử hình…” nếu “đã hoặc toan phạm” các tội mà chúng cho là “phá hoại, xâm phạm an ninh quốc gia” dù sự “xâm hại” đó mới chỉ có trong tư tưởng, trong ý nghĩ - nếu bị phát hiện. Trong khi những người cách mạng ở miền Nam nói chung thường chấp hành nghiêm sự chỉ đạo, lãnh đạo của Trung ương, của cấp ủy, bấy giờ không được “đề cập”, “nói động” đến đấu tranh võ trang, cấm hoạt động võ trang, kể cả cấm “có tư tưởng võ trang”… Qua một đoạn trong bản Báo cáo “Một số tình hình khủng bố và chống khủng bố ở miền Tây Nam bộ” của Xứ ủy Nam bộ, có thể hình dung thêm phần nào về tình hình lúc bấy giờ:

“Nhìn qua tình hình địch tăng cường khủng bố, hành quân càn quét, đánh phá ác liệt và phong trào đấu tranh của quần chúng có phần rộng rãi và quyết liệt hơn trước, chúng ta thấy hiện tình có những kết quả, khó khăn, thiệt hại giữa ta và địch như sau: Địch quyết liệt đánh phá với yêu cầu làm chuyển hẳn tương quan lực lượng ở nông thôn về tư tưởng và tổ chức, đánh tới mức không còn tìm ra manh mối của Đảng, buộc quần chúng phải đầu hàng, hoàn toàn khuất phục chúng. Địch tuyên truyền tác động mạnh Luật 10/59 nhằm làm cho quần chúng sợ liên can với Đảng ta. Chúng dùng hành động chém bắn, tra tấn cực kỳ tàn ác rùng rợn để làm quần chúng khiếp sợ. Do đó tư tưởng cán bộ, đảng viên và quần chúng rất xao xuyến, nhứt là ở những vùng khủng bố găng. Một số quần chúng và đảng viên hoang mang sợ sệt, sa sút tinh thần, co lại không dám hoạt động, đấu tranh. Một số quần chúng không dám chứa chấp, liên hệ với cán bộ. Địch không những ép quần chúng vào Nhân dân Tự vệ đoàn, buộc họ đi canh gác và luyện tập quân sự mà còn huy động được hàng trăm, hàng ngàn người đi ruồng bố, bao vây, rượt bắt cán bộ, đảng viên, huy động xã này đi ruồng bố xã kia… Một tình hình phổ biến nữa là quần chúng và đảng viên, nhứt là những vùng địch đánh phá ác liệt như Cà Mau, Rạch Giá… tuy cũng đều tin tưởng cách mạng nhứt định thắng lợi, tin tưởng chỉ có Đảng mới trung thành với nhân dân và mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi, nhưng đều nghi ngờ đấu tranh chánh trị không thắng lợi, đều đòi Đảng xét lại đường lối đấu tranh, đều cho rằng đấu tranh như vậy mãi sẽ tổn thất và bế tắc. Họ đòi đấu tranh võ trang…”. (Bản báo cáo này đề ngày 24/10/1959; trận Xẻo Rô diễn ra ngày 30/10/1959 - cách nhau 1 tuần lễ). Cho nên một trận đánh ầm vang của 1 đơn vị võ trang tập trung cấp tỉnh, diệt gọn 1 chi khu chỉ trong 2 giờ đồng hồ, diệt cả quận trưởng kiêm chi khu trưởng, như trận Xẻo Rô 30/10/1959, thì quả là có nhiều điều đáng suy gẫm.

Việc hành quân đến điểm tập kết quân biết bao khó khăn, nguy hiểm khôn lường; chỉ đi ban đêm, cả năm, sáu chục con người, hàng chục chiếc xuồng, đường xa hàng chục cây số, qua nhiều lung bàu, kinh rạch, xóm nhà. Số đầu hàng, phản bội, tề điệp lại có mặt khắp nơi, ăn ở trà trộn trong dân… Nội việc xử lý chó sủa cũng là một kỳ công, phải nắm tình hình trên tuyến đường hành quân có ngang qua nhà ai có nuôi chó, họ là ai; rồi cho cơ sở khéo léo vận động để họ đồng ý nhốt chó, thậm chí họ còn “sáng kiến” cho bỏ chó vô bao có rắc tro trộn vôi bột (chó sủa sẽ bị sặc…). Rồi chuyện mượn xuồng của dân, khi cần đưa tới, đưa lui… Làm sao để không lộ hoạt động; bị địch tình nghi. Trong khi đó, thời kỳ này địch ngày càng tàn ác, làm cho dân kinh sợ; đồng thời chúng còn có nhiều hình thức kiểm soát, khống chế người dân rất nghiêm ngặt (như Báo cáo của Xứ ủy Nam bộ đã đề cập). Từ lâu, địch đã qui định người lạ, nhứt là cán bộ Việt Cộng ngang qua xóm ấp hoặc vào nhà ai thì nhà đó phải đánh mõ, la làng, nếu không, chúng biết được thì không yên với chúng… Nhưng, khi người dân đã có lòng ủng hộ, quyết tâm che chở cán bộ thì họ tự “gỡ khó” cho mình và cho cán bộ bằng cách đợi cán bộ đi xa mới tri hô; cán bộ đi đường này, chỉ đường khác… Dân vẫn “giữ thế hợp pháp” với địch; cán bộ vẫn đi lại hoạt động, tuyên truyền, móc nối, “kiếm ăn”… được.

U Minh vốn là “khu vực ảnh hưởng” của Việt Minh (“Việt Minh Cán Gáo”) “hang ổ” của Việt Cộng, của cách mạng nên kẻ địch luôn muốn xóa - cả vật chất lẫn tinh thần (cho nên dân sống ở vùng này nói riêng và vùng căn cứ cách mạng nào trên đất nước này cũng vậy - “khổ nhiều” và “khổ lâu” là vậy!).

Chi khu - quận lỵ Kiên An đóng tại Xẻo Rô, hồi đó (1954 - 1959) như một chốt thép ngăn cắt U Minh Thượng (khu vực của lực lượng Việt Minh - vùng căn cứ cũ của kháng chiến) với tỉnh lỵ Rạch Giá (nơi đóng bộ máy đầu não của chế độ Sài Gòn ở tỉnh Kiên Giang). Đứng đầu nơi đây là quận trưởng kiêm chi khu trưởng Lâm Quang Quận ác ôn cùng số tay chân bộ hạ mà hầu hết đều có ân oán, hằn thù với kháng chiến; số cơ hội, tay sai muốn lập công với chế độ mới Mỹ - Diệm. Trong số đó, nguy hiểm, gian ác nhứt là số cán bộ kháng chiến cũ trở mặt phản bội, hung hăng hoạt động. Đặc biệt là khu vực U Minh (cả thượng và hạ) lúc bấy giờ còn được đặt dưới sự trực tiếp phụ trách, “làm hùm, làm hổ” của Lâm Quang Phòng, Thiếu tá Bảo an đoàn, chỉ huy trưởng Vệ binh tỉnh Kiên Giang. Đơn vị Vệ binh do Phòng chỉ huy (dân quen gọi là lính quốc gia áo đen - do chúng mặc đồ đen như cán bộ Việt Minh trước đây) tập hợp thành phần cơ bản như đã nói trên. Chúng hoạt động rất tích cực, hiệu quả, gây rất nhiều khó khăn, tổn thất cho lực lượng cách mạng của địa phương trong thời kỳ này. Chúng chỉ nhìn lưng cán bộ cũ từ xa là gọi đúng tên. Xóm dân nào có người ăn nói đàng hoàng, sanh hoạt giản dị, không có tánh tham lam, không quen miệng chửi thề, không cờ bạc, rượu chè hoặc hay quan tâm giúp đỡ, gần gũi, hòa đồng với mọi người xung quanh bất luận sang hèn, thường khuyên bảo những điều hay l thiệt… (cán bộ cách mạng, đảng viên hồi đó là như vậy!) trước sau sẽ bị chúng để ý nghi ngờ, theo dõi để sẵn sàng bắt bớ, tù đày, tra tấn, thủ tiêu…

Tỉnh Kiên Giang, năm 1955 toàn Đảng bộ có khoảng 2.200 đảng viên. Năm 1957, tỉnh giao 2 huyện Long Mỹ và Hồng Dân cho tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Bạc Liêu - cùng số đảng viên khoảng 1.000. Đến cuối 1959, qua sự đánh phá của địch, toàn tỉnh chỉ còn khoảng 200 đảng viên!

Tình hình căng thẳng, “khó trăm bề”, nan giải như vậy mà tiến hành thực hiện được trận đánh có kết quả như thế, cho thấy lòng dân tin tưởng, ủng hộ cách mạng như thế nào! Muôn thuở, không căn cứ địa nào bằng, vững chắc bằng “căn cứ lòng dân”!

Độ lùi của lịch sử trận đánh đã 60 năm, có thể cho phép có một cái nhìn tương đối về sự kiện này. Dầu sao, cũng phải khẳng định rằng: trận Xẻo Rô là một trận tấn công của lực lượng võ trang cách mạng tiêu diệt 1 chi khu quân sự đầu tiên của địch ở miền Nam trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là phát pháo báo hiệu “đêm trước” của một cao trào toàn dân nổi dậy, tiếp tục diệt ác, phá kềm, giành quyền làm chủ nông thôn ở tỉnh Rạch Giá nói riêng và miền Nam nói chung; làm nức lòng Đảng bộ, quân dân trong tỉnh; nâng cao mạnh mẽ niềm tin vào thắng lợi của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nó có ý nghĩa làm dấu mốc mở màn, mở đầu, góp phần mở ra một thời kỳ mới cách mạng miền Nam chính thức, công khai võ trang chiến đấu, cùng với đấu tranh chính trị không ngừng kết hợp tấn công chống đế quốc Mỹ và tay sai cho đến khi giành được thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân lịch sử 1975.

Trận Xẻo Rô 30/10/1959 đã đi vào lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta - một chiến công hiển hách của lòng dân, của quân dân Kiên Giang.